Một số quan sát từ chuyến đi:
1. Tourist information:
Sáng thứ 7 bay ra Đà Nẵng chờ lấy xe máy sẽ chạy tiếp. Bước xuống sân bay hăm hở lao vào quầy cung cấp thông tin. Nhớ lại ở sân bay Changi bên Singapore, vừa làm thủ tục nhập cảnh xong bước ra là đụng ngay quầy thông tin với vô số cuốn booklet theo các size khác nhau và chủ đề khác nhau. Tha hồ vơ về khách sạn rồi cứ theo đó mà đi khắp Singapore mà chẳng sợ thiếu thông tin gì.
Chả bù quầy thông tin của sân bay Đà Nẵng chỉ lèo vèo vài tờ brochure nhàu nhĩ và cũ kỷ của vài khách sạn mini hoặc dịch vụ massage. Nếu xét Đà Nẵng là cầu hàng không tối ưu để đi được đến Hội An, Mỹ Sơn, Huế và Phong Nha - 3 di sản văn hóa và 1 di sản thiên nhiên thế giới tại Việt Nam thì chắc chắn đây là cầu hàng không quan trọng nhất về du lịch tại Việt Nam dành cho khách Việt Nam và đặc biệt là khách quốc tế. Vậy mà...thông tin thế này chả trách sao mình làm xúc tiến du lịch tốn bao nhiêu tiền của mà du lịch Việt Nam đến giờ vẫn là "hidden charm" tìm hoài chả thấy mà cũng chẳng ai biết có gì để mà tìm.
Buổi sáng không kịp lấy xe máy nên 2 thằng dự định ra Cù Lao Chàm ở gần Hội An chơi. Nghe nói bây giờ có chuyến tàu cánh ngầm từ Đà Nẵng chạy thẳng ra Cù Lao Chàm nên 2 thằng ra ngồi nhâm nhi cafe Long rất thư giãn. Đến lúc chuẩn bị đi thì gọi điện thoại khắp nơi từ 1080 đến bạn bè họ hàng hang hốc ngoài Đà Nẵng thì chẳng ai biết là tàu cánh ngầm đi ở bến nào, bây giờ còn đi không. Cuối cùng mới phát hiện ra là dịch vụ này ế ẩm quá nên đã stop từ đời Napoleon rồi. Ước gì 1080 của mình cập nhật thông tin về du lịch tốt hơn để có thể trả lời những câu hỏi của du khách khi đến từng địa phương thì rõ ràng là bên du lịch cũng chả cần phải tốn nhiều tiền làm xúc tiến du lịch làm gì. Nhớ lại hồi chuyến đi trước ngang qua Phú Yên mà 1080 lẫn dân tình chả ai biết Ghềnh Đá Dĩa ở chỗ nào để mà chỉ cho mình dù chỗ này dân du lịch suốt ngày kháo nhau.
2. Di tích lịch sử:
Kết luận cuối cùng rút ra từ chuyến đi này. Nếu bạn không có nhu cầu giết thời gian và tiền bạc thì đừng nên đi thăm các di tích lịch sử và văn hóa ở Việt Nam (trừ Huế) vì sẽ rơi vào một trong hai trường phái sau:
- Trường phái 1: One way concept: các di tích lịch sử văn hóa, đặc biệt là các di tích lịch sử thời cận đại sau năm 1945 chỉ toàn trình bày 1 chiều theo kiểu "ta thắng địch thua", "ta nhân bản địch dã man", "ta khôn ngoan chiến lược, địch ngu ngốc". Điển hình như khu thành cổ Quảng Trị. Nhìn lại lịch sử thì mình cũng không hiểu tại sao ngày xưa các bác nhà mình nhất định chui vào trong vòng thành cổ đến cho tụi Mỹ trên thì trả bom, ngoài thì bắn đại bác vào thì làm sao mà không chết vì có đường đâu mà chạy ngoài việc chạy loang quoanh trong cái vòng thành làm mục tiêu di động cho tụi Mỹ. Vào trong thành cổ chỉ nghe anh hướng dẫn viên bằng một giọng thuyết minh "cố gắng tỏ ra cảm động" kể cho mọi người về một anh lính nào đó đã hy sinh mà vẫn thương nhớ mẹ & người yêu qua những cánh thư, không hề nghe giải thích thuyết minh về trận đánh ngày xưa thế nào. Tại sao quân mình phải rút vào trong thành để cuối cùng phải chết nhiều như thế thì không nghe nói gì hết? Lịch sử đâu thể nào chỉ toàn những sự thật một chiều như thế.
- Trường phái 2: mặc áo mới cho di tích: tỉnh nào địa phương nào cũng cố gắng lựa ra những chỗ ngày xưa các vị nổi tiếng đã từng "đi toa lét", "tắm giặt" cũng nâng cấp thành di tích lịch sử văn hóa rồi đăng ký là di tích cấp quốc gia. Sau đó, thì tiến hành trùng tu tôn tạo. Trùng tu tôn tạo theo các bác ấy là sơn son thếp vàng mới keng, thậm chí có trường hợp còn xây bê tông cốt sắt hoàng tráng vào rồi đặt hòm công đức. Cuối cùng khách du lịch đến chỉ thấy không khí buôn thần bán thánh, còn chẳng thể nào tìm được dấu vết thời gian của những công trình kiến trúc cũ, điêu khắc cũ để nghiên cứu hay học hỏi gì cả.
3. Một vài quan sát lịch sử:
- Lăng mộ của các vua Hậu Lê nói lên điều gì?????
Sau khi Lê Lợi lên ngôi vua thì đóng đô ở Thăng Long nhưng vẫn xây dựng cung điện ở Lam Sơn (Thanh Hóa) thành một kinh đô thứ 2 gọi là Lam Kinh. Các vua Lê khi mất đều được đưa từ Thăng Long về đây chôn cất và thờ phượng. Một điều rất lạ là lăng các vua Lê còn tồn tại (4/8 vị vua được chôn ở Lam Kinh) đều rất nhỏ bé đến tội nghiệp, các tượng thờ hai bên lăng vua chỉ cao khoảng 1 gang tay, thấp lè tè mặt đất, không hề có sự oai hùng của lăng mộ một vị vua gì cả. Kiểu như lăng mộ của Lê Thánh Tông, vị vua nổi tiếng trong lịch sử cũng chỉ nhỏ như một lăng mộ người dân bình thường, các tượng thờ hai bên cũng chỉ có thế, xem ra còn thua lăng mộ các vị giàu có thời xưa thường thấy trên phim ảnh. Chỉ có lăng mộ của Lê Lợi còn có 2 con ngựa đá gần bằng kích cỡ của ngựa thật nhưng nhìn rất mới, hình như mới được đưa vào vì không hề tương thích với kích cỡ phần mộ gốc và các tượng thờ cũ chỉ cao khoảng hơn 1 gang tay.
Nếu so sánh lịch sử Việt Nam với lịch sử Trung Quốc thì thời Lê Lợi là thời nhà Minh bên Trung Quốc. Nhà Minh thời đó đã xây dựng Tử Cấm Thành giờ vẫn tồn tại ở Bắc Kinh thì việc lăng mộ sơ sài của các vị vua Lê có thể ngụ ý rằng Việt Nam ngày đó vẫn là một quốc gia bé nhỏ (nếu không muốn nói là rất bé nhỏ) với nguồn lực rất hạn chế, lại chiến tranh liên miên (thời đó Việt Nam mình vẫn chưa thực sự sở hữu và khai thác Đàng Trong, dù Chế Mân đã dâng Châu Ô & Châu Rí - vùng Huế & Quảng Bình ngày nay - cho nhà Trần để đổi lấy Huyền Trân Công Chúa). Quốc gia không giàu có nên lăng mộ vua chúa sơ sài là điều dĩ nhiên, sau này đến cuối đời Lê khi vua Lê chúa Trịnh đất nước rơi vào tình trạng chia năm xẻ bảy nội chiến liên tục thì suy yếu là lẽ đương nhiên.
Do đó, khi các chúa Nguyễn vào định cư ở Đàng Trong ai cũng cố gắng mở rộng và xác lập tầm ảnh hưởng ở các vùng Nam Bộ ngày nay. Đàng Trong phì nhiêu màu mỡ và nhiều sản vật mới thực sự là trọng địa kinh tế của quốc gia. Do đó, đến thời Nguyễn thì mới bắt đầu có kinh đô và lăng tẩm đế vương tương đối quy mô như những gì còn lại ở Huế. Khi đang viết phần này thì trên báo điện tử vietnamnet có một đưa tin một hội thảo về xét lại công và tội của các chúa Nguyễn trong quá trình mở mang bờ cõi, phát triển giao thương & văn hóa đàng trong tạo tiền đề cho nhà Nguyễn sau này. Ngẫm ra cũng là một điều chí lý, xưa nay lịch sử thời kỳ này do quá tập trung vào nhà Tây Sơn nên bỏ qua hoặc nhìn nhận không khách quan về đóng góp của các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn sau này.
- Kinh đô quân sự Hoa Lư:
Đi đến Hoa Lư (Ninh Bình) mới biết được là cả Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) và Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đều không phải quê gốc tại Hoa Lư nhưng vẫn chọn Hoa Lư làm kinh đô trong 2 triều Đinh & Tiền Lê). Thực chất quốc gia lúc đó sau khi bước ra khỏi một giai đoạn loạn ly dài bước vào thời bình yên ngắn ngủi, hiểm họa phương Bắc vẫn còn rình rập. Do đó, kinh đô quốc gia khi đó phải là một kinh đô quân sự. Tuy nhiên, với thực lực kinh tế hạn chế của quốc gia lại suy kiệt sau một thời gian chiến tranh thì việc lựa chọn đặt kinh đô tại Hoa Lư là một lựa chọn cực kỳ khôn ngoan vì địa thế Hoa Lư gồm nhiều ngọn núi đá vôi nằm gần nhau, do đó, chỉ cần đắp đất các vùng giữa 2 ngọn núi để nối lại với nhau là đã có một ngôi thành tự nhiên hết sức kiên cố không nhân công nào có thể thi công.
Đến thời Lý Công Uẩn thì đất nước bắt đầu bước vào giai đoạn thịnh trị, việc duy trì kinh đô quân sự không còn phù hợp nên mới có việc Lý Công Uẩn dời đô ra thành Đại La (nay là Thăng Long) địa thế bằng phẳng, thuận lợi cho việc xây dựng kinh đô văn hóa, giao thương và đối ngoại. Còn việc tại sao lại dời đô ra Thăng Long mà không phải là các địa bàn khác (ví dụ: Hải Phòng, Thái Bình hay Nam Định) thì thật sự đối với mình vẫn chưa rõ lắm. Có phải vì thời đó chỉ có thành Đại La là lớn nhất, quy mô nhất. Các vùng đất như Hải Phòng hay Thái Bình vẫn là các vùng đất mới, chưa thực sự hiểu biết hết, chưa khai thác hết (ví dụ: vùng Tiền Hải của Thái Bình hoặc vùng Kim Sơn của Ninh Bình mãi đến thời Nguyễn mới được Nguyễn Công Trứ khai phá và đưa dân đến cư ngụ, khai thác). Nếu xét đến việc Kim Sơn cách tỉnh lỵ Ninh Bình chưa đến 30 km (đây là nơi xây dựng nhà thờ Phát Diệm nổi tiếng) thì mới thấy ở thời kỳ đó, địa bàn cư trú của dân Việt thực sự rất nhỏ bé.
4. Nhà thờ Phát Diệm:
Không cần phải nói nhiều về công trình nhà thờ độc đáo này vì bản thân nó đã quá nổi tiếng. Thậm chí một người bạn của mình nằng nặc nhờ mình chụp hình và gởi cho xem (sorry bạn, đến giờ này mình vẫn chưa gởi hình cho bạn). Tài năng của cha Sáu (vị cha xứ của nhà thờ đã chủ trì công trình thiết kế và xây dựng nhà thờ trong 23 năm) là không thể phủ nhận.
Lần đầu tiên chạy đến nhà thờ lúc 7h tối bị đóng cửa nên phải leo rào vào nhà thờ. Tuy nhiên, buổi tối không thể nào chụp hình được. Không khó để cảm nhận vẻ trầm mặc của ngôi nhà thờ độc đáo này trong đêm tối, do đó, hôm sau tôi phải trở lại nhà thờ vào buổi chiều để chụp ảnh cho thỏa thích.
Trong suốt thời gian tại nhà thờ và các sách giới thiệu ai cũng khen ngợi cha Sáu vì tài năng và tâm huyết xây dựng công trình trên. Không có gì để bình luận về tài năng của ông trong việc thiết kế, quy hoạch và xây dựng nhà thờ. Nhưng về động cơ xây dựng nhà thờ thì hình như không như mọi người ngưỡng vọng việc kính Chúa của ông. Hình như ông cố gắng xây dựng nhà thờ cho tham vọng cá nhân thì phải. Một trong các nhà thờ là để kính lên vị thánh của ông, mộ ông được đặt ngay chính giữa khu vực nhà thờ ngay sau Phương Đình đồ sộ và ngay trước nhà thờ Lớn (nhà thờ chính của quần thể Phát Diệm). Quần thể nhà thờ này xây dựng quá tốn kém và phức tạp so với trình độ xây dựng và kinh tế thời đó (thậm chí bây giờ cũng vậy) với những khối đá to nguyên khối 20 tấn, những cây gỗ lim nguyên khối lấy từ tận vùng Thanh Hóa vận chuyển về. Địa thế xây dựng quần thể nhà thờ lại là vùng đất bồi bị sụt lún.
So sánh một cách thô sơ thì hà thờ Lớn thậm chí cũng gần bằng điện Thái Hòa trong Thành Nội (Huế) của vương triều nhà Nguyễn thời đó. Với sức dân nghèo vùng Ninh Bình & Thanh Hóa để xây dựng được quần thể nhà thờ này thì biết bao nhiêu sự hy sinh sức người & sức của để xây dựng nên (thời đó không có sự viện trợ từ giáo hội nước ngoài để xây nhà thờ).
Dĩ nhiên những sự kiện này không thể kết luận điều gì nhưng không thể nào không gây suy nghĩ về động cơ của cha Sáu đối với quần thể nhà thờ trên.